Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2016

Ứng dụng của Nitơ lỏng

Nitơ là một khí không phản ứng. Nito là một trong các loại khí công nghiệp và có ứng dụng rộng rãi, là khí trơ, không màu, không mùi, không độc hại, không gây cháy nổ, Số nguyên tử của nó là 7 và biểu tượng là N. nó bao gồm khoảng 78% bầu khí quyển của Trái đất. Nitơ cũng có mặt trong mọi sinh vật sống trên hành tinh.Ở dạng khí hóa lỏng có nhiệt độ -1960C ( là chất siêu lạnh ).Quá trình chưng cất chân không không khí thu được 2 sản phẩm chủ yếu là Nitơ lỏng ( Liquid Nitrogen ) và Oxy lỏng ( Liquid Oxygen ).
Nitơ lỏng là nito trong một trạng thái lỏng ở nhiệt độ rất thấp. Nó được sản xuất công nghiệp bằng cách chưng cất phân đoạn không khí lỏng. Nitơ lỏng là một chất lỏng trong suốt không màu trọng lượng riêng 0,807 g / ml ở điểm sôi của nó và một hằng số điện môi 1.4.
Một trong những đặc tính hữu dụng của khí Nitơ là tính trơ Hóa chất của nó.
Ở thể tinh khiết hoặc hổn hợp, khí Nitơ được sử dụng như một môi trường bảo vệ chống lại sự Oxy hóa, sự cháy bởi không khí, sự ô nhiễm bởi độ ẩm.
Ở thể tinh khiết, khí Nitơ được sử dụng để làm loãng khí không cần thiết hoặc hơi nước, làm giảm sự đậm đặc của Oxy, sự cháy hoặc hơi độc.
Trong sự nhiệt luyện, khí Nitơ được sử dụng để bảo vệ bề mặt kim loại.
Trong đóng gói thực phẩm, khí Nitơ được pha trộn với khí carbon dioxide và oxy để làm khí Oxy trong quá trình đóng gói
Bình Nitơ lỏng
Ứng dụng:
Nito lỏng thường dùng :
+ Bảo quản mẫu tinh người, phôi trong thụ tinh nhân tạo, bảo quản tinh gia súc trong chăn nuôi.
+ Dùng nhiều trong phẫu thuật lạnh và được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam.
+ Sử dụng tạo hiệu ứng khói trong sân khấu.
+ Dùng trong ép SUN computer, làm môi trường để hàn các chip nhỏ trong linh kiện điện tử.
+ Sử dụng trong các máy phân tích.

Ứng dụng của nitơ lỏng trong thực phẩm:
+ Làm đông lạnh nhanh và sâu: ứng dụng để làm lạnh trực tiếp trên dây chuyền thịt tươi sống, giúp giữ được tính chất của thực phẩm và bảo quản được lâu hơn.
+ Làm căng vỏ (bao, lon, chai Pet, túi) chứa đồ uống (không gas) giúp cho vỏ bao không bị biến dạng khi vận chuyển, việc dán nhãn bằng máy tự động dễ hơn và giữ được hương vị của đồ uống lâu hơn.
+ Tạo môi trường bảo quản thực phẩm và đồ uống: giúp loại bỏ oxy.


Thứ Hai, 21 tháng 3, 2016

Giới thiệu khí oxy dùng trong y tế

Nếu bạn chưa có kinh nghiệm sử dụng bình khí công nghiệp oxy thở y tế cho các bệnh liên quan cần phải dùng nguồn oxy, bạn nên đọc qua những câu hỏi thông thường giúp bạn tăng hiểu biết về loại oxy y tế được sử dụng rộng rãi hiện nay tại VN.

1. Oxy y tế là gì?
Oxy là một loại khí không màu, không mùi, không vị rất cần thiết cho hoạt động cuộc sống của con người. Khi chúng ta hít một hơi thở, chúng ta rút ra trong không khí một lượng khí chứa 21% là oxy vào phổi của chúng ta. Oxy đi từ phổi của chúng ta vào máu, nơi mà nó được thực hiện trong các tế bào máu đỏ cho tất cả các cơ quan và mô cơ thể. Oxy rất cần thiết vì chúng chuyển đổi thức ăn tạo thành nhiệt và năng lượng hay nói cách khác, oxy duy trì cuộc sống.

2. Tại sao phải cần thở oxy?
Thông thường, oxy qua dễ dàng từ phổi đi vào máu và được bơm bởi tim mạch cho tất cả bộ phận trong cơ thể. Khi xảy ra bệnh phổi hoặc bệnh tim, oxy không thể được hấp thụ dễ dàng vào máu. Khi tim bị bệnh thì nó không thể bơm được nhiều máu vận chuyển oxy.
Một trong những tình huống có thể dẫn đến số lượng giảm sút của oxy đến các cơ quan và các mô của cơ thể, làm cho cơ thể hoạt động kém đi. Điều này có thể gây ra nhiều tác dụng không mong muốn như giảm khả năng vận động, khó thở, mệt mỏi, rối loạn và mất trí nhớ,.. Thở oxy làm tăng lượng oxy đi vào máu và được mau đến các cơ quan và mô cơ thể.

3. Khi nào cần phải thở oxy?
Nếu nghi ngờ mình khó thở nên khám bác sĩ để có thể bổ sung oxy nếu người bệnh có một hoặc nhiều các triệu chứng sau: giảm khả năng hoạt động, khó thở, dễ dàng bị mệt mỏi, mất phương phướng hoặc mất trí nhớ.
Cách duy nhất để xác định xem bạn cần cung cấp oxy bổ sung là để đo lượng máu của bạn với động mạch máu hoặc khí oxy. Bác sĩ sẽ thực hiện các bài kiểm tra đánh giá và xác định nhu cầu oxy của người bệnh. Ở giai đoạn này, bác sĩ sẽ đo tốc độ dòng chảy oxy thích hợp và thời gian sử dụng.

4. Có phải các bệnh nhân phổi hoặc tim cần phải bổ sung oxy không?
Đúng vậy, những người mắc căn bệnh viêm phổi, phù phổi, suy phổi, suy tim, suy giảm tuần hoàn đều có vấn đề về cơ hoành và hô hấp. Để cải thiện điều này, bắt buộc họ phải được hỗ trợ bằng oxy y tế bao gồm thở theo liều lượng được bác sĩ cho phép định mức và đồng thời sử dụng các loại thuốc hỗ trợ giúp cho sức khỏe được phục hồi tốt hơn.

5. Những bệnh nên được thở oxy dài hạn tại nhà
Tất cả bệnh phổi mạn tính giai đoạn cuối đều nên được thở oxy dài hạn tại nhà, các tình trạng này thường là hậu quả cuối cùng của các bệnh như: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, giãn phế quản, xơ phổi, hen phế quản, béo phì, xơ cứng bì, ung thư phổi....
Những trường hợp này được chỉ định thở oxy dài hạn tại nhà khi bác sỹ khám và làm xét nghiệm đo lường nồng độ các khí trong máu động mạch thấy: áp lực riêng phần của oxy trong máu động mạch < 50mmHg, hoặc áp lực riêng phần oxy trong máu động mạch từ 51-55mmHg nhưng kèm theo một trong các dấu hiệu của tâm phế mạn hoặc suy hô hấp mạn tính.
6. Những Lợi ích của thở oxy y tế liên tục tại nhà ở bệnh nhân
1. Có giấc ngủ tốt hơn
2. Ổn định áp lực động mạch phổi: tránh bị tâm phế mãn, suy tim phải
3. Giảm số lần nhập viện
4. Tăng tuổi thọ
5. Cải thiện tâm thần kinh
6. Cải thiện chất lượng cuộc sống

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2016

Đá Khô – ứng dụng làm sạch trong tương lai

Việc sử dụng những viên đá khô CO2 ở dạng rắn là một phương phá vệ sinh khá tốt . Việc làm này rất thân thiện với môi trường, đây là phương pháp vệ sinh thiết bị sản xuất công nghiệp nhanh chóng đem lại hiệu quả cao thay thế các phương pháp truyền thống.
Vệ sinh máy móc bằng đá khô
Làm sạch bằng đá khô kết hợp bởi 3 quá trình sau.
1. Động học: Viên đã khô chịu gia tốc trong vòi phun khí nén và đập váo bề mặt với tốc độ âm thanh , chúng sẽ be gẫy và đánh bật các lớp bám bên ngoài trên các bề mặt cần xử lý.
2. Nhiệt học. Khi nhiệt độ thấp của những viên đá khô (-79° C) làm cho lớp bám ngoài trở nên giòn, đột ngột co lại và tách ra khỏi bề mặt cần làm sạch. Do nhiệt độ thấp cho phép đã khô xuyên qua lớp bám ngoài , bẻ gẫy và đánh bật chúng.
3. Sự thăng hoa:Khi đá khô chuyển qua lớp bám ngoài chúng sẽ ở trạng thái thăng hoa là chuyển trực tiếp từ dạng rắn sang dạng khí tinh kiết làm cho thể tích tăng lên gấp 700 lần tạo nên hiệu ứng nổ đánh bật lớp bám ngoài ra khỏi bế mặt.
Công dụng của việc làm sạch bằng đá khô.
- Thời gian vệ sinh được tiết kiệm : với phương pháp làm sạch thông thường yêu cầu các thiết bị cần tháo rời để làm sạch . Với cách sử dụng phương pháp làm sạch bằng đá khô không cần tháo rời sản phẩm.
- Làm sạch kỹ lưỡng : Các phươn pháp thông thường khó có thể làm sạch dễ dàng được các khe ha góc nhỏ . Nhưng việc sử dụng các đầu vòi phun có chứa khí hóa lòng CO2 nó sẽ trở lên đơn giản hơn 
- Không tông tại chất thải thứ cấp : sử dụng phương pháp làm sạch bằng đá khô này các chất bẩn được loại bỏ khỏi bề mặt không có nước bẩn hay hóa chất tẩy rửa như các phương pháp cũ
- Bề mặt không bị mòn : việc phun cát , dùng bàn chải hoặc dùng hóa chất tẩy rửa có thể hư hỏng lại bể mặt cần làm sạch . Với phương pháp làm sạch bằng CO2 này hoàn toàn không có hiện tượng đó.
-Tiết kiệm chi phí :vệ sinh máy móc tại chỗ không cần tháo gỡ vì vậy không ảnh hưởng nhiều đến dây truyền . Không cần xử lý chất thải độc hại sau khi rủa xong , tăng tuổi thọ của thiệt bị lên.
- An toàn, thân thiện với môi trường : vì CO2 không độc lên người sẽ an toàn cho người lao động , an toàn với thiết bị và thân thiên với môi trường
- Ứng dụng: ứng dụng rộng tãi trong hầu hết các ngành công nghiệp. Một số chất bản được loại bỏ hoàn toàn và hiệu quả vượt trội như sơn, gỉ sắt, dầu mỡ, các chất kết dính phải dùng dung môi với phương pháp thông thường, nhựa đường…

Thứ Tư, 16 tháng 3, 2016

Tăng tốc độ cho xe bằng N2O

Bạn là người đam mê môn thể thao tốc độ và muốn tăng công suất cho chiếc xe của mình? Hoàn toàn có thể! Có nhiều cách để tăng công suất cho chiếc xe của bạn. Bạn có thể lắp thêm turbo, superchanger hoặc tăng tỷ số nén của động cơ.
Tuy nhiên có một cách đơn giản, hiệu quả và quan trọng hơn cả là chi phí thấp. Đó là sử dụng hệ thống NOS ( Nitrous Oxide System).
 
Nguyên lý
 
Để đốt hết một lượng nhiên liệu nhất định, cần phải có một lượng không khí (oxi) vừa đủ. Hỗn hợp không khí và nhiên liệu nạp vào động cơ theo đúng tỷ lệ trên được gọi là hỗn hợp trung hòa. Nếu lượng không khí nạp vào nhiều hơn lượng không khí cần thiết để đốt cháy hết nhiên liệu thì hỗn hợp được gọi là “nghèo” nhiên liệu (hệ số dư lượng không khí lớn hơn 1). Ngược lại thì hỗn hợp được gọi là “giàu” nhiên liệu. Trong trường hợp này, sau khi cháy, nhiên liệu còn thừa sẽ bị thải ra bên ngoài, vừa gây ô nhiễm lại vừa hao phí.
 
Giải pháp
 
Để tăng công suất của động cơ, thường ta luôn nghĩ đến việc làm sao để đốt được nhiều nhiên liệu hơn, tức là phải nạp được nhiều nhiên liệu hơn, điều này là tương đối đơn giản, chỉ việc phun thêm nhiên liệu. Tuy nhiên, vấn đề là ở chổ không khí. Đối với các loại động cơ nạp thông thường (không tăng áp), lượng không khí nạp vào là có giới hạn. Cũng chính vì giới hạn này mà từ lâu người ta đã nghĩ ra nhiều cách đưa thêm không khí vào buồng cháy động cơ. Turbo và superchanger chính là những ví dụ.
Nút bấm kích hoạt NOS màu đỏ trên vô lăng
Xét về nguyên lý dẫn động, turbo và supercharge có khác nhau (một dẫn động bằng khí thải và một dẫn động bằng trục khuỷu của động cơ) nhưng khi xét về mục đích, cả hai hệ thống này là hoàn toàn giống nhau: nén không khí đến áp suất cao hơn trước khi nạp vào động cơ. áp suất không khí cao hơn đồng nghĩa với mật độ không khí lớn hơn, tức nhiều oxi hơn với cùng một thể tích buồng cháy, cho phép động cơ có thể đốt cháy nhiều nhiên liệu hơn, công suất từ đó cũng tăng lên. Tuy nhiên, áp suất nén của turbo và supercharge cũng có giới hạn và dường như vẫn chưa thể đáp ứng được những đòi hỏi của những người ham hố tốc độ hay các tay đua chuyên nghiệp. Lúc này, NOS (Nitrous Oxide System) chính là một lựa chọn tối ưu!
 
NOS là gì?
 
Cách phun N2O vào buồng cháy để tăng công suất động cơ được ngành công nghiệp hàng không của Đức Quốc Xã phát hiện vào những năm đầu của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Hàng ngàn máy bay chiến đấu và máy bay trinh sát của Đức đã được trang bị hệ thống có tên gọi là “GM-1”. Chính hệ thống này đã nạp N2O vào động cơ máy bay để bù lại lượng oxi bị thiếu hụt do mật độ không khí loãng dần khi máy bay hoạt động ở vị trí cao hơn rất nhiều so với mực nước biển. Không lực Hoàng gia Anh sau đó cũng đã sử dụng N2O để tăng công suất cho các loại động cơ máy bay của họ. Tuy nhiên, Không quân Hoa kỳ lại không sử dụng N2O, ngoại trừ các cuộc thử nghiệm rất hạn chế vì họ còn nghi ngờ tính an toàn của phương pháp này.
 
Bởi không giống các loại phương tiện di chuyển trên mặt đất, bất kỳ một sai sót kỹ thuật nào cũng có thể dẫn đến những hậu quả rất tồi tệ, đặc biệt là ở phần động cơ, khi máy bay đang hoạt động. ô tô thì khác, suốt những năm 50 của thế kỷ trước, tại Mỹ, tay đua lừng danh Smokey Yunick đã “âm thầm” sử dụng N2O có chủ đích để dành rất nhiều chiến thắng cho đến khi bị phát hiện và bị cấm theo luật của NASCAR. Mặc dù bị cấm nhưng vẫn có nhiều vụ bê bối xoay quanh vấn đề N2O ở NASCAR trong các năm sau đó vì tính hiệu quả của nó.Về cơ bản, NOS cũng chỉ là một hệ thống có nhiệm vụ đưa được nhiều oxi hơn vào buồng cháy, thông qua việc phun N2O vào ngay trước cửa nạp của động cơ. Có nhiều quan điểm sai trái về hệ thống này, phổ biến nhất có lẽ là quan điểm cho rằng N2O là một loại nhiên liệu. Thực tế, Nitrous Oxide là một loại khí không màu, không cháy, có mùi thơm nhẹ, không độc và không gây bỏng rát. Tuy nhiên , khi hít phải một lượng nhỏ, N2O có thể gây phấn khích, kích động nhẹ và gây cười “vô cớ”.
 
Chính vì vậy mà N2O có một cái “nickname” rất thú vị: “khí cười” hay còn gọi là “khí tê” (laughing gas).
Vậy tại sao N2O có thể gia tăng công suất động cơ? Khi đốt nóng đến nhiệt độ khoảng 300 độ C, N2O sẽ bị nhiệt phân và chuyển thành Nitơ cùng Oxi đơn chất. Nếu phun N2O ngay trước cửa nạp của buồng cháy, quá trình hút sẽ cuốn N2O vào trong. Ở kỳ nén, khi nhiệt độ không khí bên trong buồng cháy đạt đến tầm 300 độ C, một hỗn hợp khí giàu Oxi sẽ được tạo ra. Trong N2O, Oxi chiếm 36% khối lượng nhưng ở không khí Oxi chỉ chiếm 23% khối lượng, quan trọng hơn, với cùng một nhiệt độ và áp suất, mật độ phân tử của N2O cao hơn mật độ phân tử của không khí khoảng 50%. Chính vì vậy, lượng Oxi chứa trong 28,3 lít (1 foot khối) N2O cao gấp 2,3 lần so với lượng Oxi chứa trong 28,3 lít không khí.
 
Từ đó, nếu tính sơ bộ, chỉ cần thay một lượng nhỏ không khí bằng N2O là chúng ta có thể nạp thêm một lượng nhiên liệu rất đáng kể nạp vào buồng đốt. Hiệu quả của phương pháp này cũng giống như phương pháp độ thêm turbo, supercharge hoặc tăng tỷ số nén của động cơ, nhưng cao hơn rất nhiều. Tuy nhiên, NOS chỉ làm tăng công suất tức thời của động cơ, giúp xe tăng tốc cực nhanh ở thời điểm hệ thống NOS được kích hoạt. Và do đó, N2O hoàn toàn không phải là một loại nhiên liệu, không phải vật cháy, mà là một tác nhân gây cháy.

NOS giúp xe tăng tốc cực nhanh ở thời điểm kích hoạt .
Hiện nay, NOS chưa được phổ biến tại Việt Nam, tuy nhiên, nó không mấy xa lạ đối với những tay ham thích tốc độ hay dân chơi xe chuyên nghiệp ở các nước âu - Mỹ.

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2016

Khí hóa lỏng là gì?

Khí hóa lỏng (còn gọi là LPG, GPL, LP Gas, hoặc autogas) là một hỗn hợp dễ cháy của hydrocarbongases được sử dụng làm nhiên liệu trong các thiết bị sưởi ấm và xe cộ. ngày nay càng được sử dụng như một chất nổ đẩy aerosol và chất làm lạnh, thay thế chlorofluorocarbons trong một nỗ lực để giảm thiệt hại đến tầng ôzôn.
Thành phần LPG mua và bán bao gồm hỗn hợp mà chủ yếu là propan (C3H8); chủ yếu là butan (C4H10) và, phổ biến nhất, hỗn hợp bao gồm cả propane và butane, tùy theo mùa - trong propane mùa đông nhiều hơn, trong mùa hè hơn butan. Propylene và butylenes thường cũng có mặt ở nồng độ nhỏ. Một mùi mạnh mẽ, ethanethiol, được thêm vào để khi rò rỉ có thể được phát hiện dễ dàng. Các tiêu chuẩn quốc tế là EN 589.
LPG là tổng hợp của dầu mỏ tinh chế hoặc "ướt" khí đốt tự nhiên, và thường bắt nguồn từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch, được sản xuất trong tinh chế dầu thô, hoặc chiết xuất từ ​​dầu hoặc khí suối khi chúng xuất hiện từ mặt đất. Nó lần đầu tiên được sản xuất vào năm 1910 bởi Tiến sĩ Walter Snelling, và các sản phẩm thương mại đầu tiên xuất hiện vào năm 1912. Nó hiện đang cung cấp khoảng 3% năng lượng tiêu thụ, và bỏng sạch sẽ và không có mùi và rất ít phát thải khí lưu huỳnh, đặt ra mối nguy hiểm không có đất hoặc ô nhiễm nguồn nước. LPG có một giá trị tiêu biểu cụ thể nhiệt của 46,1 MJ / kg so với 42,5 MJ / kg đối với dầu nhiên liệu và 43,5 MJ / kg đối với loại xăng cao cấp (xăng dầu). [1] Tuy nhiên, mật độ năng lượng trên một đơn vị khối lượng của 26 MJ / l thấp hơn hoặc là nhiên liệu xăng dầu [cần dẫn nguồn].
LPG sẽ bay hơi ở nhiệt độ bình thường và áp lực và được cung cấp bằng thép chịu áp lực cylinders.They thường đầy từ 80% và 85% công suất của họ cho phép mở rộng nhiệt của chất lỏng chứa. Tỷ lệ giữa khối lượng của khí bay hơi và khí hóa lỏng khác nhau tùy thuộc vào thành phần, áp suất, và nhiệt độ, nhưng thường là khoảng 250:1. Áp lực mà trở nên lỏng LPG, gọi là áp suất hơi của nó, tương tự thay đổi tùy theo thành phần và nhiệt độ, ví dụ, nó là khoảng 220 kilopascals (2,2 bar) cho butan tinh khiết tại 20 ° C (68 ° F), và khoảng 2,2 megapascals (22 bar) cho propan nguyên chất ở 55 ° C (131 ° F). LPG nặng hơn không khí, và do đó sẽ chảy dọc theo sàn nhà và có xu hướng giải quyết tại các điểm thấp, như tầng hầm. Điều này có thể gây cháy hoặc ngạt thở nguy hiểm nếu không được xử lý.
Một lượng lớn khí đốt hóa lỏng có thể được lưu trữ trong các bình lớn và có thể được chôn dưới lòng đất.

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

Điều chế khí Acetylen

Chất Acetylen là chất khí không màu ở dạng tinh khiết có mùi ete yếu . Khi cháy Acetylen toả nhiệt lớn nên được dùng để hàn, cắt kim loại. Axetylen tan nhiều trong các dung môi khác nhau, tan trong nước khi ở nhiệt độ thấp. Với điều kiện bình thường axetylen là chất khí không màu, không độc nhưng có khả năng gây mê, axetylen tinh khiết có mùi hơi ngọt, axetylen ít tan trong nước nhẹ hơn không khí và sau khi được nén khí, hoá lỏng, hoặc pha trộn với không khí nóng, nó sẽ trở thành rất nổ.
Khí axetylen
Trong mục đích thương mại thì axetylen được sản xuất từ một số nguyên vật liệu khác nhau tùy thuộc vào quá trinhg áp dụng . Trong quá trính sản xuất và xử lý khí này trong các nhà máy cần phải đề phòng đầy đủ và đặc biệt.
 Trong acrylic có các kí hiệu hóa học như H2C2 là một hydrocacbon bao gồm 2 nguyên tử hiđrô và hai nguyên tử cacbon. Chất này có ứng dụng đặc biệt trong công nghieepk , axetylen được dùng làm nguyên liệu ban đầu tổng hợp các chất hữu cơ quan trọng như : Vinylclorua , Vinylaxetat , Vinylete..
Dựa trên  axetylen người ta còn sản xuất ra các hợp chất hóa học quan trọng khác như : nhựa , chất bám đinh , chất phủ bề mặt, chất dẫn điện hữu cơ và cớ rất nhiều sản phẩm khác đi từ axetylen. VÌ những ứng dụng đó mà chúng được sản xuất rất nhiều trên thế giới và các nhà nghiên cứu khoa học luông nghiên cứu mong tìm ra các quá trình công nghệ khác nhau để sản xuất ra axetylen nhằm đem lại hiệu quả cao trong kinh tế,
Sản xuất axetylen có 2 quá trình :
- Quá trình phản ứng hóa học:  xuất hiện ở nhiệt độ bình thường.
- Quá trình cracking nhiệt : xuất hiện ở nhiệt độ cực cao.
Cách lưu trữ và xử lý của Acetylen.
Vì là chất dễ gây nổ của khí. Áp lực này được lưu giữ rất thấp khi khí là đi qua đường ống dẫn. Thông thường, độ dài của đường ống là rất ngắn, trong hầy hết các hoạt động sản xuất khí đốt axetylen là chỉ vận chuyển xa như một nhà máy lận cân ,
hoặc như họ nói trong các doanh nghiệp chế biến hóa "hơn các hàng rào". Có chai dung lượng đặc biệt để lưu trữ axetylen khi nó được sử dụng trong oxy-axetylen và kim loại hàn cắt.
Khi muốn xây dựng nhà máy khí axetylen yêu cầu biện pháp phòng ngừa đặc biệt với những quy định sau đây.
- Cần có một khoảng cách của atleast 15m tất cả các xung quanh nhà máy axetylen từ bất kỳ tòa nhà khác. Cách hố bùn tối thiểu là 9m . 
- Việc lưu trữ khí axetylen nên được xây dựng với 12m khu an toàn tất cả xung quanh.
- cần có những cách biệt triêng biệt với các nhà máy không phải tất cả các ngọn lửa và chuyển mạch bằng chứng, nổ, tại một khu vực cách xa từ việc xây dựng nhà máy axetylen.
- Trong nhà máy không chứa những vận liệu dễ cháy nổ.
- Nhà máy cần được xây dựng thoáng khí . Cần có những Vinylaxetat trên mái và mặt đất. Đường dây điện nên cũng không qua bất kỳ đường ống mang nước hoặc hơi nước hoặc axetylen.
Cần đảm bảo tốt toàn bộ quá trình sản xuất khí công nghiệp này nhằm đảm bảo độ an toàn cho người lao động cũng như cả hệ thống và môi trường xung quanh.